Dự báo thị trường, bài học từ Warren Buffett và Apple

Trong những chu kỳ kinh tế gần đây, phần lớn lợi nhuận thị trường có được đến từ 3 năm cuối của chu kỳ. Những người bi quan thì giai đoạn nào họ cũng thấy khủng hoảng, rời bỏ thị trường quá sớm và sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội, còn nhà đầu tư như huyền thoại như Buffett thì tập trung vào mỗi doanh nghiệp cụ thể, thay vì đoán thị trường. Đây là bài học đơn giản nhưng không dễ để thưc hiện.

 

BUFFETT ON APPLE - ảnh 1

Năm 1969, Buffett đóng cửa quỹ đầu tư (partnership) giữa lúc thị trường đang tăng trưởng mạnh, lý do đơn giản vì ông không tìm thấy những cổ phiếu phù hợp với triết lý đầu tư của mình.

Giai đoạn 1998 đến 2000, giữa cơn sốt của các công ty internet, cho dù cổ đông có kêu gọi ông đầu tư vào lĩnh vực này, Warren vẫn ngồi im vì không tìm được cổ phiếu phù hợp với triết lý đầu tư.

Từ 2010 đến tháng 3 2016, chỉ số S&P 500 tăng hơn 80%. The Fed cũng bắt đầu nâng lãi suất, kết thúc giai đoạn lãi suất ~0%, rất nhiều chuyên gia nhận định khủng hoảng sắp xảy ra, Buffett bắt đầu mua cổ phiếu Apple vì ông cho rằng Apple đã phù hợp với triết lý đầu tư.

Giữa 2016 thị trường đạt đỉnh cao nhất mọi thời đại, thêm nhiều nhận định khủng hoảng sắp xảy ra, Buffett mua thêm Apple.

Cuối 2016 thị trường lại đạt mức đỉnh cao mới, nhiều chuyên gia nhận định khủng hoảng sắp xảy ra, Buffett tiếp tục mua Apple.

Tháng 3/2017 thị trường ở gần mức đỉnh cao nhất mọi thời đại, thêm nhiều nhận định khủng hoảng sắp xảy ra, Buffett tiếp tục mua Apple.

Tháng 12/2017 thị trường thiết lập thêm một đỉnh cao nhất mọi thời đại, vô số nhận định khủng hoảng sắp xảy ra, Buffett tiếp tục mua Apple.

Tháng 3/2018 thị trường sụt giảm sau một đợt điều chỉnh, Buffett tiếp tục mua Apple.

Tháng 6/2018, thị trường lại tiến sát mức đỉnh cao nhất mọi thời đại, giữa lúc cuộc chiến thương mại Mĩ Trung nóng bỏng, Fed tiếp tục nâng lãi suất, nhận định khủng hoảng tràn ngập khắp các báo lớn và Buffett tiếp tục mua Apple.

Cách đầu tư của Buffett vào Apple để lại rất nhiều bài học. Buffett đầu tư khi cho rằng cổ phiếu phù hợp với tiêu chuẩn ông đặt ra(có thể hiểu được doanh nghiệp, mức giá phù hợp, doanh nghiệp vẫn còn nhiều cơ hội tăng trưởng, người quản lý có tầm và có tâm), không mua khi không phù hợp với triết lý đó. Đối với Buffett, thông tin thị trường chỉ như gia vị cho món ăn, không phải thành phần chính.

Trong 8 năm qua, những người bi quan đã bỏ lỡ một giai đoạn tăng trưởng tuyệt vời. Thị trường tỏ ra lo ngại khi những chỉ số vĩ mô của nền kinh tế Mĩ như tăng trưởng GDP, thất nghiệp, tiền lương, mức độ tự tin tiêu dùng, lãi suất... ở mức xấu vì cho rằng nó là biểu hiện của những điều tồi tệ hơn sẽ xảy ra.

Ở hiện tại, những chỉ số vĩ mô đang ở mức đẹp nhất trong nhiều năm, những người bi quan lại cho rằng điều tốt đẹp đã qua, điều tồi tệ sắp đến. Và kỳ lạ ở chỗ, khi những điều tốt đẹp xảy ra, càng nhiều người tin rằng điều xấu sắp đến.

Lịch sử cho thấy rằng, khủng hoảng thường xảy ra khi người ta không tin nó sẽ xảy ra, và cuộc khủng hoảng sau đến từ những nguyên nhân khác cuộc khủng hoảng trước. Khi tất cả cùng mong chờ một điều tồi tệ trong khoảng hai năm tới theo cách dựa vào những chỉ báo cũ, chưa chắc nó đã đến.

CHUYÊN GIA DỰ BÁO KHỦNG HOẢNG - ảnh 2

Shiller P/E

Robert Shiller với chỉ số Shiller nổi tiếng đã dự báo được khủng hoảng dot com đầu 2000s. Cuộc khủng hoảng 2008 Shiller vẫn dự báo thành công nhưng đã trễ thêm đôi năm. Và gần đây Shiller tin rằng một cuộc khủng hoảng khác đang đến, nhưng lần này dự báo sẽ trễ bao nhiêu năm? Giống như nhiều nghiên cứu học thuật khác, khi được Wall Street đưa vào sử dụng sẽ mất dần hiệu quả theo thời gian. Đơn giản vì khi chỉ số Shiller ở mức nguy hiểm, dòng tiền đã tìm nơi trú ẩn rồi thì còn đâu cơ hội cho khủng hoảng theo cách cũ nữa. Nhưng theo Shiller thì cũng có thể nhờ những chỉ báo của ông thị trường sẽ phản ứng nhanh hơn và rơi vào khủng hoảng sớm hơn.

Yield Curve - ảnh 2

Đường cong lợi tức trái phiếu kho bạc Mĩ là tập hợp của lợi tức những trái phiếu có kỳ hạn khác nhau từ 3 tháng cho đến 30 năm. Trong lịch sử, Yield Curve đã dự đoán gần như đúng hết tất cả các cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên từ sau khủng hoảng 2008 đến nay, việc đọc Yield Curve một cách máy móc dường như không còn phù hợp.

Giới phân tích thường lâý mức chênh lệch lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm và 2 năm làm chỉ báo để dự đoán khủng hoảng. Tuy vậy hệ số tương quan của mức chênh lệch lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm và 2 năm đối với tăng trưởng GDP Mĩ trong 10 năm qua lại là một con số âm. Các hệ số tương quan khác cũng giảm rất nhiều so với cùng thống kê từ 1962-2008. Điều này chứng tỏ đường cong lợi tức ngày càng kém tin tưởng trong việc dự báo.

SO SÁNH VUI TÂM LÝ ĐẦU TƯ 2017-2018 - ảnh 3

Cá nhân tôi cho rằng thị trường thời điểm cuối 2018 đã trở lên hấp dẫn và an toàn hơn rất nhiều so với cuối 2017. Tuy nhiên cổ phiếu là một món hàng kỳ lạ. Nó không tuân theo quy luật cung cầu thông thường, tức giá tăng thì cầu giảm. Đối với cổ phiếu, khi giá càng cao, nhu cầu mua càng tăng, khi giá giảm, nhu cầu mua cũng giảm theo. Có thể nói rằng, tâm lý người chơi tác động đến giá cổ phiếu nhiều hơn cả tình hình tài chính thực sự của doanh nghiệp. Tôi so sánh vui vẻ tâm lý nhà đầu tư trong hai năm 2017 và 2018 trong ảnh 3.

Cùng một sự kiện, cách biên dịch có thể khác nhau 180 độ khi tâm lý khác nhau.

KẾT

Trong những chu kỳ kinh tế gần đây, phần lớn lợi nhuận thị trường có được đến từ 3 năm cuối của chu kỳ. Những người bi quan thì giai đoạn nào họ cũng thấy khủng hoảng, rời bỏ thị trường quá sớm và sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội, còn nhà đầu tư như huyền thoại như Buffett thì tập trung vào mỗi doanh nghiệp cụ thể, thay vì đoán thị trường. Đây là bài học đơn giản nhưng không dễ để thưc hiện.

Nói như vậy không đồng nghĩa rằng có thể xem nhẹ việc timing the market, sẽ viết kỹ hơn vấn đề này trong các bài sau.

You can’t predict, you can prepare (Howard Marks)

Nguồn 

Facebook của John Cao

Bài đăng 09/12/2018

 

 

The Value Hunter


Tham gia bình luận bằng tài khoản facebook